SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
0
7
7
7
2
4
Xe buýt Thứ Bảy, 10/12/2011, 09:55

Đề án Quy hoạch vận tải khách công cộng bằng xe buýt trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2011 – 2020

Đặt vấn đề

1. Sự cần thiết phải lập đề án:

Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông đường bộ trong tỉnh, mạng lưới vận tải hành khách công cộng bằng xe ô tô cũng được hình thành và phát triển ngày càng đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân. Từ chỗ chưa có xe ô tô chở khách về đến trung tâm các huyện vùng sâu, vùng xa (năm 1997) như: Thị trấn Gành Hào, thị trấn  Phước Long, thị trấn Ngan Dừa v.v. Đến nay, ngoài tuyến Quốc lộ, đã có nhiều tuyến đường bộ liên huyện đã tổ chức được các tuyến vận tải khách bằng xe ô tô có trọng tải xe từ 16 đến 29 ghế, tạo thành mạng lưới vận tải hành khách bằng xe ô tô rất phong phú và đa dạng như: Vận tải hành khách theo tuyến cố định, vận tải hành khách bằng xe taxi, vận tải hành khách theo hợp đồng v.v. đã được hình thành và phát triển.

Tuy nhiên, các phương thức vận tải hành khách này còn có những hạn chế như: Không giải quyết được yêu cầu của hành khách lên xuống dọc đường, đến các chợ, bệnh viện, trường học, cơ quan, khu dân cư trong các đô thị, v.v. . . . Kể từ ngày thực hiện Đề án thay thế xe lôi máy trên địa bàn tỉnh (12/2007), các xe lôi máy không còn hoạt động; do đó, xe mô tô hai bánh chở khách (xe ôm) phát triển nhiều, làm tăng mật độ xe cơ giới lưu thông trên đường, đặc biệt là trong các khu đô thị, nguy cơ ùn tắc giao thông và nguy cơ gây ra tai nạn giao thông cao. Vì vậy, yêu cầu cần tổ chức hoạt động các tuyến xe buýt là đòi hỏi cấp bách nhằm giải quyết nhu cầu đi lại của nhân dân và góp phần ngăn chặn ùn tắc giao thông và nguy cơ gây ra tai nạn giao thông đường bộ.

2. Đối tượng nghiên cứu của đề án:

a. Trong đề án này chỉ nghiên cứu các tuyến đường Quốc lộ, đường tỉnh, các đường vành đai, đường hướng tâm, đường phố chính trong nội ô thành phố Bạc Liêu. Trong đó, chỉ nghiên cứu các tuyến đường có nhu cầu hình thành và phát triển các tuyến xe buýt, gọi là mạng lưới tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt.

b. Về hệ thống bến xe và điểm đầu, điểm cuối của mỗi tuyến xe buýt: Trong quy định hiện hành tại Thông tư số 14/2010/TT-BGTVT ngày 24/6/2010 của Bộ Giao thông vận tải không quy định điểm đầu và điểm cuối của tuyến xe buýt phải là các bến xe. Tuy nhiên các điểm đầu và cuối của mỗi tuyến xe buýt nếu không phải là các bến xe thì cũng phải đảm bảo các quy định của Bộ Giao thông vận tải.

3. Phạm vi của đề án:

- Phạm vi nghiên cứu của đề án này dựa trên phạm vi lãnh thổ của tỉnh Bạc Liêu bao gồm các huyện Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Đông Hải, Phước Long, Hồng Dân và thành phố Bạc Liêu.

- Phạm vi ảnh hưởng về lãnh thổ đến đề án này bao gồm các tỉnh giáp ranh với tỉnh Bạc Liêu như tỉnh Sóc Trăng, Kiên Giang, Hậu Giang và Cà Mau.

Định hướng xác lập các tuyến xe buýt như sau: 

* Tuyến số 1: Từ thị trấn Phú Lộc (tỉnh Sóc Trăng) – thành phố Bạc Liêu – Láng Trâm (giáp ranh tỉnh Cà Mau), dài 67 km, mặt đường thảm bê tông nhựa, phù hợp với hoạt động của xe buýt loại có trong tải 25 ghế ngồi và 25 chỗ đứng. Tuyến này xe buýt hoạt động trên đoạn QL1A và một số đường trong nội ô thành phố Bạc Liêu. Tuyến đường có mật độ dân cư đông, các cơ quan, trường học, bệnh viện, chợ, nhà máy xí nghiệp nhiều, do đó nhu cầu đi lại của nhân dân cao. Tần suất xuất bến của xe là 20 phút /1 chuyến xe. Số lượng xe buýt được xác định là 20 xe

* Tuyến số 2: Từ thành phố Bạc Liêu – Nhà Mát – Xiêm Cán – thị trấn Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng), dài 52 km, mặt đường thảm bê tông nhựa, phù hợp với hoạt động của  xe buýt loại có trọng tải dưới 30 chỗ. Tuyến này xe buýt hoạt động trên đường liên tỉnh ven biển của 2 tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Sóc Trăng đi qua một số tuyến đường nội ô thành phố Bạc Liêu. Tuyến đường có mật độ dân cư phân bổ không đều, không tập trung, ít cơ quan, trường học, nhu cầu đi lại của nhân dân không nhiều, nên tần suất xuất bến của xe là 30 phút/1 chuyến xe. Số lượng xe buýt xác định là 14 xe.

* Tuyến số 3: Từ xã Hưng Thành (huyện Vĩnh Lợi) - TP Bạc Liêu –  Vĩnh Trạch – thị trấn Vĩnh Châu (tỉnh Sóc Trăng), dài 43 km, mặt đường thảm bê tông nhựa, riêng đoạn Bạc Liêu - Hưng Thành mặt đường tráng nhựa,  phù hợp với hoạt động của xe buýt loại có trọng tải dưới 30 chỗ ngồi. Tuyến này xe buýt hoạt động trên đường Quốc lộ Nam Sông Hậu từ Vĩnh Châu đến thành phố Bạc Liêu qua một số đường trong nội ô thành phố Bạc Liêu và đường tỉnh Bạc Liêu Hưng Thành. Tuyến đường này có mật độ dân cư đông, có nhiều nhà máy xí nghiệp, cơ quan, trường học, chợ… nhu cầu đi lại của nhân dân nhiều nên tần suất xuất bến của xe là 25 phút /1 xe.. Vì tuyến đường có cự ly ngắn nên số lượng xe buýt hoạt động trên tuyến  là 12 xe.

* Tuyến số 4:  Từ ngã tư Chủ Chí - Hộ Phòng  – Giá Rai – Gành Hào, dài 48 km, mặt đường tráng nhựa, đoạn từ cầu Rạch rắn đến Gành Hào đang nâng cấp mở rộng, phù hợp với hoạt động của loại xe buýt loại có trong tải dưới 30 chổ ngồi. Tuyến này, xe buýt hoạt động trên các tuyến đường tỉnh và 5km trên Quốc lộ 1A. Tuyến đường có mật độ dân cư phân bố không đều. Tuy nhiên  tại thị trấn Gành Hào là trung tâm dân cư, trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Đông hải và là trung tâm kinh tế biển và du lịch của tỉnh, đồng thời tuyến này đi qua thị trấn Hộ Phòng và thị trấn Giá Rai,  là 2 thị trấn quan trọng của huyện Giá Rai. Đây cũng là trung tâm kinh tế văn hóa xã hội của huyện Giá Rai, nhu cầu đi lại của nhân dân nhiều, nhưng đoạn Giá Rai Gành Hào đang nâng cấp mở rộng nên tần suất xuất bến của xe là 30 phút/1 chuyến xe. Số lượng xe buýt xác định là 14 xe.

* Tuyến số 5: Từ thị trấn Phước Long – Cầu số 2 – Hòa Bình – Vĩnh Hậu, dài 44 km. Đường này đang thi công nâng cấp, mở rộng. Khi hoàn thành mặt đường thảm bê tông nhựa nóng, phù hợp với hoạt động của xe buýt có trọng tải dưới 30 chỗ ngồi. Tuyến này xuất phát từ thị trấn Phước Long là trung tâm dân cư, trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện Phước Long. Do vậy nhu cầu đi lại của nhân dân nhiều. Tuyến này có cự ly ngắn nên tần suất xuất bến của xe buýt là 30 phút /1 chuyến xe. Số lượng xe buýt hoạt động trên tuyến từ 12 đến 14 xe.

* Tuyến số 6: Từ thị trấn Ngan Dừa (huyện Hồng Dân) – Ninh Qưới – Cầu Sập – thành phố Bạc Liêu, dài 45 km. Đường này đang thi công nâng cấp mở rộng, khi hoàn thành, mặt đường được thảm bê tông nhựa nóng, phù hợp với hoạt động của xe buýt loại có trọng tải dưới 30 ghế. Thị trấn Ngan Dừa  thuộc địa bàn vùng sâu, vùng xa, là trung tâm kinh tế, văn hóa xã hội của huyện Hồng Dân và là khu tập trung dân cư đông, trên dọc tuyến có nhiều chợ và trường học. Do vậy nhu cầu đi lại của nhân dân nhiều nên tần suất xuất bến của xe buýt là 25 phút/1 chuyến xe. Số lượng xe buýt hoạt động trên tuyến từ 12 đến 14 xe.

* Tuyến số 7: Từ thành phố Bạc Liêu – Nhà Mát – Gò Cát – Gành Hào       (đường đê biển), dài 40km. Địa bàn ven biển từ ấp Biển đông (xã Vĩnh Trạch Đông) tới thị trấn Gành Hào là một trong những địa bàn trọng điểm phát triển kinh tế về rừng, thủy hải sản và du lịch biển của tỉnh Bạc Liêu trong những năm tới. Do vậy khi tuyến đường đê biển được hoàn thành và đưa vào sử dụng thì việc mở tuyến xe buýt hoạt động trên tuyến này nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn là cần thiết. Số lượng xe buýt hoạt động trên tuyến từ 12 đến 14 xe.

* Tuyến số 8: Tuyến Quản lộ Phụng Hiệp đoạn đi qua tỉnh Bạc Liêu dài 49km, từ điểm giáp ranh tỉnh Sóc Trăng đến giáp ranh tỉnh Cà Mau. Tuyến đường đang thi công, tuyến xe buýt này sẽ phục vụ đi lại của người dân từ thị trấn Ngả 5 Sóc trăng đến tp Cà Mau. Số lượng xe buýt hoạt động trên tuyến khoảng 14 xe.

Xem chi tiết Đề án tại đây./.

 


Số lượt người xem: 10102 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày